Home Vào công việc AI - Bán hàng & marketing Các cam kết về thương mại dịch vụ số theo Hiệp định...

Các cam kết về thương mại dịch vụ số theo Hiệp định Đối tác kinh tế số và Hiệp định Khung kinh tế số ASEAN

0

(Pháp lý). Việc Việt Nam chủ động đề nghị gia nhập Hiệp định Đối tác kinh tế số cũng như tham gia quá trình đàm phán Hiệp định khung kinh tế số ASEAN phản ánh nỗ lực hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế số và hướng tới tiếp cận các tiêu chuẩn khu vực về dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Tóm tắt: Sự phát triển của nền kinh tế vận hành dựa trên việc khai thác và phân tích dữ liệu được coi là một trong những xu hướng nổi bật trong những năm gần đây. Việc Việt Nam chủ động đề nghị gia nhập Hiệp định Đối tác kinh tế số cũng như tham gia quá trình đàm phán Hiệp định khung kinh tế số ASEAN phản ánh nỗ lực hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế số và hướng tới tiếp cận các tiêu chuẩn khu vực về dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Do đó, bài viết phân tích các cam kết liên quan đến thương mại dịch vụ số trong khuôn khổ hai hiệp định và cung cấp khuyến nghị dành cho Việt Nam trong tiến trình thực thi cam kết tại hai hiệp định này cũng như tận dụng các cơ hội mà hai hiệp định này mang lại.

Từ khóa: Kinh tế số, Thương mại số, Thương mại dịch vụ số, DEPA, DEFA.

COMMITMENTS ON DIGITAL SERVICES TRADE UNDER THE DIGITAL ECONOMY PARTNERSHIP AGREEMENT (DEPA) AND THE ASEAN DIGITAL ECONOMY FRAMEWORD AGREEMENT (DEFA)

Abstract: The development of a data-driven economy based on the collection and analysis of data has been regarded as one of the most prominent trends in recent years. Vietnam’s proactive move to seek accession to the Digital Economy Partnership Agreement and the country’s participation in the negotiation process of the ASEAN Digital Economy Framework Agreement reflects its efforts to deepen international integration in the digital economy and to align with regional standards on data governance, cybersecurity, consumer protection, and the promotion of innovation. Accordingly, this article examines commitments related to digital services under these two agreements and provides recommendations for Vietnam in implementing its commitments and effectively leveraging the opportunities arising from them.

Keywords: DEPA, DEFA.

1. Giới thiệu chung

Sự phát triển của nền kinh tế dựa trên khai thác và phân tích dữ liệu đang trở thành xu hướng nổi bật trong những năm gần đây, trong đó khu vực Châu Á Thái Bình Dương được xem là một trong những trung tâm của chuyển đổi số nhờ việc nhanh chóng ứng dụng các công nghệ và dịch vụ số như điện toán đám mây, nền tảng số, thanh toán trực tuyến, mạng 5G và các ứng dụng công nghệ mới. Mặc dù chưa có định nghĩa pháp lý thống nhất, dịch vụ số có thể được hiểu là các dịch vụ được cung cấp, vận hành hoặc phân phối thông qua mạng internet và công nghệ số, với đặc trưng cốt lõi là việc khai thác, chia sẻ và xử lý dữ liệu. Điều này đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn và an ninh mạng, đòi hỏi sự cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và quản lý rủi ro phát sinh.

Các quan chức ASEAN tại hội nghị AECC lần thứ 26 ở Kuala Lumpur vào ngày 24/10/2025.

Trong bối cảnh đó, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực số được coi là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế số và thương mại dịch vụ số tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Hợp tác thương mại số không chỉ dừng lại ở việc giảm thiểu rào cản thương mại mà còn bao hàm các nội dung phức tạp như hài hòa hóa chính sách và pháp luật, phát triển hạ tầng số, ứng dụng công nghệ xuyên chuỗi cung ứng, cũng như thúc đẩy sự lưu chuyển của dữ liệu, vốn và nguồn nhân lực.

Nhận thức được tính chất xuyên biên giới và đa chiều của thương mại dịch vụ số, các hiệp định chuyên biệt như Hiệp định Đối tác kinh tế số (DEPA) và Hiệp định Khung kinh tế số ASEAN (DEFA) đã được hình thành hoặc đang trong quá trình đàm phán, trong bối cảnh WTO chưa đạt được đồng thuận về xây dựng khung pháp lý đa phương điều chỉnh thương mại số. Các hiệp định này phản ánh nỗ lực của các quốc gia trong việc thiết lập các cơ chế hợp tác khu vực và liên khu vực nhằm điều chỉnh hiệu quả lĩnh vực thương mại dịch vụ số đang phát triển nhanh chóng.

Trên cơ sở đó, bài viết phân tích các quy định pháp lý điều chỉnh thương mại dịch vụ số theo các cam kết tại DEPA và DEFA, từ đó đưa ra các khuyến nghị dành cho Việt Nam nhằm thực thi và tận dụng hiệu quả các cơ hội từ hai hiệp định này trong quá trình phát triển kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bài viết được cấu trúc gồm: phần tiếp theo giới thiệu và phân tích các cam kết chính của DEPA và DEFA; phần khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam; và phần kết luận tổng hợp các lập luận và đề xuất của bài viết.

2. Các quy định điều chỉnh pháp luật về thương mại dịch vụ số theo DEPA

Hiệp định DEPA được ký kết vào ngày 11/06/2020 và chính thức có hiệu lực từ ngày 07/01/2021. Đây được coi là hiệp định quốc tế đầu tiên có phạm vi điều chỉnh chuyên biệt và toàn diện đối với các khía cạnh của thương mại số và nền kinh tế số. Với ba thành viên sáng lập bao gồm Chile, New Zealand và Singapore, hiệp định đã mở rộng khi Hàn Quốc gia nhập và tiếp tục thu hút sự quan tâm của nhiều đối tác thương mại khác, trong đó Canada, Trung Quốc và cả Việt Nam đã chính thức bày tỏ nguyện vọng gia nhập hiệp định này. Như đã nêu tại phần giới thiệu của bài viết, việc hình thành DEPA phản ánh nỗ lực của các quốc gia nhằm khắc phục khoảng trống pháp lý trong điều chỉnh thương mại số ở cấp độ đa phương, trong bối cảnh WTO chưa đạt được một khuôn khổ ràng buộc chung cho lĩnh vực này. Theo nội dung tại đoạn mở đầu của hiệp định DEPA, hiệp định này được thiết lập với mục tiêu tận dụng các cơ hội phát sinh từ đổi mới công nghệ và sự phát triển của các mạng viễn thông toàn cầu nhằm đóng góp vào phát triển kinh tế, phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả của các ngành công nghiệp hiện có, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và mở rộng của các thị trường cũng như các ngành kinh tế mới trong môi trường số.

Ảnh minh họa

Một đặc điểm nổi bật của Hiệp định DEPA là cấu trúc module. Không giống các hiệp định thương mại tự do truyền thống, DEPA được thiết kế gồm các module độc lập nhưng có tính liên kết chặt chẽ, vừa tạo thành một chỉnh thể thống nhất, vừa có khả năng được tách rời để tích hợp vào các hiệp định thương mại tự do khác hoặc sử dụng trong các khuôn khổ đàm phán đa phương, chẳng hạn như Sáng kiến chung về thương mại điện tử của WTO. Với tổng cộng mười sáu module, nội dung chính của hiệp định nêu tại 11 module đầu tiên có thể được nhóm vào ba trụ cột chính: (i) bảo đảm dòng chảy dữ liệu đáng tin cậy và tang cường bảo vệ người tiêu dung trên môi trường số hóa, (ii) thúc đẩy số hóa trong toàn bộ quy trình giao dịch, và (iii) thiết lập nền tảng pháp lý và thể chế nhằm hỗ trợ đổi mới sáng tạo và mở rộng sự tham gia vào nền kinh tế số. Năm module còn lại tập trung vào các nội dung liên quan tới vận hành và thực thi hiệp định. Do bài viết tập trung vào các cam kết về thương mại dịch vụ nên nội dung phần này sẽ tập trung phân tích các quy định của Hiệp định DEPA đối với nội dung (i) và (iii). 

Thứ nhất, liên quan đến chia sẻ dữ liệu, DEPA thừa nhận rằng dữ liệu xuyên biên giới là điều kiện thiết yếu để thương mại số và thương mại dịch vụ số có thể vận hành. Các hoạt động phổ biến như mua hàng trên nền tảng thương mại điện tử, cung cấp nội dung số, hay phát trực tiếp các dịch vụ giải trí trực tuyến đều phụ thuộc trực tiếp vào khả năng lưu chuyển dữ liệu qua biên giới quốc gia. Tuy nhiên, trong bối cảnh các chính phủ ngày càng tăng cường điều chỉnh các dòng chảy dữ liệu (thông qua các biện pháp hạn chế chuyển dữ liệu ra nước ngoài hoặc yêu cầu lưu trữ dữ liệu nội địa), nhu cầu xây dựng niềm tin đối với các giao dịch số trở nên đặc biệt quan trọng. Lý do của việc ban hành các quy định như vậy là để đảm bảo quyền riêng tư về dữ liệu, thúc đẩy an ninh không gian mạng, hoặc tạo điều kiện cho việc thực thi các quy định pháp luật, song đồng thời cũng có thể tạo ra rào cản đối với thương mại dịch vụ số.

Việc xây dựng và củng cố niềm tin đối với các dòng chảy dữ liệu, cũng như đối với toàn bộ các giai đoạn của giao dịch được thực hiện trên nền tảng số, đóng vai trò then chốt đối với các chính phủ và các chủ thể tham gia vào nền kinh tế số. Đối với người sử dụng, niềm tin này thể hiện ở việc bảo đảm rằng dữ liệu cá nhân của họ được thu thập, xử lý và sử dụng một cách minh bạch và phù hợp, các giao dịch tài chính được thực hiện an toàn và bảo mật, đồng thời thông tin và quyền lợi của họ được bảo vệ hiệu quả trước các hành vi gian lận, lạm dụng dữ liệu, sử dụng sai mục đích, cũng như nguy cơ tiếp cận các sản phẩm hoặc dịch vụ không đạt chất lượng hoawcj không đúng với cam kết của nhà cung cấp. Hiệp định DEPA tiếp cận vấn đề này thông qua các điều khoản về bảo vệ thông tin cá nhân, an ninh không gian mạng, an toàn trên không gian mạng, các tin nhắn quảng cáo (spam), và bảo vệ người tiêu dung trên không gian mạng. Ví dụ, Điều 6.2 yêu cầu ‘mỗi bên phải ban hành hoặc duy trì các biện pháp điều chỉnh các tin nhắn quảng cáo’. Cụ thể các biện pháp như sau:

(a) Yêu cầu các nhà cung cấp các tin nhắn quảng cáo tạo điều kiện để người nhận có khả năng ngăn chặn việc tiếp tục nhận các tin nhắn quảng cáo đó;  

(b) Yêu cầu sự đồng ý của người nhận, theo quy định pháp luật của mỗi bên, đối với việc nhận các tin nhắn quảng cáo; hoặc  

(c) Áp dụng các biện pháp khác nhằm giảm thiểu tối đa việc nhận các tin nhắn quảng cáo không mong muốn.

Đồng thời Điều 6.2 hiệp định cũng yêu cầu ‘mỗi bên phải đảm bảo có cơ chế khiếu kiện hoặc biện pháp xử lý đối với những bên cung cấp tin nhắn quảng cáo mà không tuân thủ các biện pháp được nêu trên’.

Bên cạnh việc bảo vệ dữ liệu cá nhân và kiểm soát tin nhắn quảng cáo thương mại, hiệp định DEPA còn đặt trọng tâm vào bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi gian lận, lừa đảo, và các hoạt động thương mại không trung thực, cũng như các điều khoản hợp đồng bất lợi, và các hành vi tương tự trong các giao dịch thương mại điện tử. Theo đó, tại Điều 6.3 hiệp định yêu cầu các thành viên ‘ban hành hoặc duy trì các luật hoặc các quy định nhằm:

(a) Yêu cầu rằng, tại thời điểm giao hàng, hàng hóa và dịch vụ được cung cấp phải đạt chất lượng chấp nhận được và thỏa đáng, phù hợp với những tuyên bố của nhà cung cấp liên quan tới chất lượng của hang hóa và dịch vụ đó; và

(b) Bảo đảm người tiêu dùng nhận được các biện pháp khắc phục phù hợp trong trường hợp hàng hóa và dịch vụ không đáp ứng các yêu cầu nêu trên.

Thứ hai, liên quan tới thúc đẩy đổi mới công nghệ và mở rộng sự tham gia vào nền kinh tế số, hiệp định DEPA bao gồm các module điều chỉnh ‘các công nghệ và mô hình kinh doanh mới nổi’ (module 8) cũng như ‘các hoạt động đổi mới sáng tạo’ (module 9). Cả hai đều nhằm phản ánh cách tiếp cận linh hoạt và hướng tới tương lai của hiệp định. Sự phát triển nhanh chóng của Trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ tài chính (FinTech) đặt ra những thách thức mới về chính sách xung quanh quản trị dữ liệu, cạnh tranh, và các hệ quả khó lường của các công nghệ nêu trên. Mặt khác, việc tạo ra một môi trường cho AI và các công nghệ FinTech phát triển lại mang đến những lợi ích kinh tế và xã hội đáng kể. Theo đó, hiệp định DEPA khuyến khích các bên hợp tác trong việc xây dựng các khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các nội dung trên. Liên quan tới AI, hiệp định thúc đẩy các quốc gia thành viên ban hành các khung pháp lý điều chỉnh các vấn đề về đạo đức trong phát triển và sử dụng AI. Trong đó, phát triển AI phải theo hướng minh bạch, có thể giải thích được, và xây dựng dựa trên các giá trị lấy con người làm trung tâm. Đối với FinTech, hiệp định thừa nhận vai trò trung tâm của khu vực tư nhân và thúc đảy hợp tác giữa các doanh nghiệp, các công ty khởi nghiệp và các cơ quan quản lý nhẳm tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo trong khi vẫn đảm bảo ổn định và an toàn tài chính.

Với một môi trường số xuyên biên giới ngày càng cởi mở và mang tính tạo điều kiện, nhiều mô hình kinh doanh, sản phẩm và dịch vụ đổi mới có thể được hình thành. Hiệp định thiết lập khuôn khổ pháp lý cho các sáng kiến chia sẻ dữ liệu trong tương lai, bao gồm các dự án thử nghiệm dữ liệu có kiểm soát (regulatory data sandboxes). Điều 9.4.1 của hiệp định thừa nhận cơ chế thử nghiệm dữ liệu có kiểm soát như một công cụ chính sách có khả năng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đồng thời khẳng định rằng cơ chế này phải được triển khai trong khuôn khổ pháp luật của từng quốc gia thành viên. Theo đó, việc thử nghiệm và chia sẻ dữ liệu, bao gồm cả dữ liệu cá nhân, nếu được thực hiện phù hợp với pháp luật quốc gia, được coi là hợp pháp, cho phép các cơ quan quản lý đánh giá tác động của việc khai thác và sử dụng dữ liệu trong các mô hình kinh doanh mới mà không làm suy giảm mức độ bảo vệ pháp lý hiện hành. Bên cạnh đó, Điều 9.4.3 thiết lập một nghĩa vụ hợp tác mang tính khuyến khích giưa các quốc gia thành viên trong việc phát triển và triển khai các dự án thử nghiệm dữ liệu có kiểm soát. Cụm từ “shall endeavour to collaborate” (tạm dịch: cam kết nỗ lực hợp tác) tại điều khoản này phản ánh một nghĩa vụ hợp tác mềm, theo đó các bên cam kết nỗ lực phối hợp trong các dự án chia sẻ dữ liệu, xây dựng cơ chế và khuôn khổ chia sẻ dữ liệu, cũng như phát triển các hướng dẫn cho việc sử dụng các hình thức khai thác dữ liệu mới, bao gồm các mô hình thử nghiệm dữ liệu có kiểm soát. Mục tiêu của nghĩa vụ này là tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển các đổi mới sáng tạo dựa trên dữ liệu thông qua hợp tác chính sách và trao đổi kinh nghiệm giữa các quốc gia thành viên. Đồng thời, hiệp định cũng khuyến khích một cách tiếp cận mở đối với dữ liệu chính phủ và sự hợp tác nhằm cung cấp quyền truy cập dữ liệu cho cộng đồng. Những quy định này tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm và dịch vụ số mới, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại dịch vụ.

Cuối cùng, DEPA dành sự quan tâm tới thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thương mại số. Thương mại dịch vụ số có thể mở ra các kênh tiếp cận thị trường hiệu quả và ít tốn kém hơn cho các doanh nghiệp này. Tiềm năng này được thúc đẩy khi các quy định được đồng nhất và có phạm vi thực thi xuyên các quốc gia và nền kinh tế. Hiệp định cung cấp đa dạng các quy định nhằm đảm bảo thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiệp định nhận thấy rằng các doanh nghiệp này cần sự tiếp cập thông tin, vốn, các công cụ kĩ thuật số, công nghệ, và các cơ hội thương mại. Vì vậy các quốc gia thành viên cần phải thiết lập một trang thông tin cung cấp nội dung hiệp định này và các thông tin liên quan tới các quy định về dữ liệu và bảo mật, các quy định liên quan tới thử nghiệm dữ liệu trong môi trường cô lập, các tiêu chuẩn kỹ thuật (Điều 10.3.1). Không những vậy, hiệp định cũng cung cấp nền tảng đối thoại để đảm bảo sự kết nối và trao đổi thông tin giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà hoạch định chính sách, và cộng đồng doanh nghiệp rộng hơn (Điều 10.4). Đây sẽ tạo môi trường để cùng kiến tạo các quy định về thương mại số phù hợp với mục đích điều chỉnh. Những cơ chế này không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ tham gia thương mại dịch vụ số mà còn tạo điều kiện cho sự tham gia có hệ thống của khu vực tư nhân vào quá trình hình thành và hoàn thiện các quy định điều chỉnh thương mại số.

Ảnh minh họa

3. Đàm phán về thương mại dịch vụ số theo DEFA

Hiệp định DEFA là một trong những sáng kiến nền tảng trong chiến lược chuyển đổi số của ASEAN, được các nhà lãnh đạo khu vực thông qua tại Hội nghị Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community) lần thứ 20. Hiệp định này hiện đang trong quá trình đàm phán và dự kiến sẽ được ký kết vào năm 2026, với kỳ vọng thiết lập một khuôn khổ pháp lý toàn diện nhằm hỗ trợ ASEAN trở thành một khu vực dẫn đầu về kinh tế số, và hiệp định này sẽ đóng vai trò là một hiệp định toàn diện điều chỉnh quá trình chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số trong khu vực. Về mục tiêu, DEFA hướng tới việc giảm thiểu các rào cản đối với thương mại số, thúc đẩy đầu tư vào hạ tầng số, và phát triển nguồn nhân lực kinh tế số. Theo ước tính, việc triển khai hiệu quả DEFA dự kiến sẽ giúp nền kinh tế số của ASEAN tăng gấp đôi giá trị lên hai nghìn tỷ đô la Mỹ vào năm 2030.

Cũng tương tự như Hiệp định DEPA, DEFA cũng là một hiệp định với nội dung chỉ tập trung vào điều chỉnh thương mại và kinh tế số trong khu vực ASEAN. Nội dung hiệp định cũng điều chỉnh các vấn đề cốt lõi của kinh tế số, tập trung vào chín lĩnh vực trọng tâm sau: (1) thúc đẩy thương mại thông qua sử dụng tài liệu và quy trình điện tử, (2) thiết lập một sân chơi công bằng và hiệu quả hơn cho thương mại điện tử, (3) thúc đẩy và điều chỉnh hóa đơn điện tử và các phương thức thanh toán điện tử, (4) xây dựng một hệ thống định danh điện tử và xác thực điện tử có khả năng công nhận lẫn nhau trong khu vực, (5) tăng cường an toàn và an ninh không gian mạng, (6) bảo đảm bảo vệ thông tin cá nhân và dữ liệu cá nhân, (7) thúc đẩy và thực thi một môi trường minh bạch cho cạnh tranh kinh tế và lựa chọn của người tiêu dùng, (8) hợp tác trong xây dựng các quy định pháp lý để đảm bảo thúc đẩy các đổi mới về công nghệ trong các lĩnh vực mới nổi như AI, và (9) cho phép sự dịch chuyển nguồn nhân lực số trong khu vực và cùng hợp tác trong xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực này.

Cũng giống như DEPA, DEFA cũng thết lập các tiêu chuẩn tối thiểu liên quan tới các quy định bảo vệ dữ liệu. Các quy định này nên được thiết lập dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế đã được công nhận, chẳng hạn như các tiêu chuẩn được thiết lập bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Nội dung này đảm bảo rằng không có quy định của bất kỳ quốc gia nào ở dưới mức tiêu chuẩn chung cho toàn khu vực, từ đó thúc đẩy sự thống nhất và tính tương thích cho toàn khu vực. Cách tiếp cận này góp phần thúc đẩy tính thống nhất, khả năng tương thích và sự tin cậy trong toàn khu vực, đồng thời cho phép các quốc gia duy trì mức độ linh hoạt nhất định để phù hợp với các ưu tiên và điều kiện trong nước. Đối với các lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến an ninh quốc gia như tài chính, viễn thông và y tế, DEFA thừa nhận nhu cầu áp dụng các cơ chế điều chỉnh riêng biệt và thận trọng hơn.

Thông qua việc thúc đẩy một môi trường số dựa trên cơ sở hạ tầng kết nối năng động và sự hài hòa về quy định, hiệp định khuyến khích đầu tư vào kết nối số và xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, một yếu tố nhằm thúc đẩy sự hợp tác không gián đoạn giữa các quốc gia trong khu vực. Thông qua việc thúc đẩy chia sẻ dữ liệu xuyên biên gới thông qua các quy định hợp nhất điều chỉnh dữ liệu, DEFA có thể giảm thiểu rào cản trong khai thác AI và thiết lập các chính sách chung và các tiêu chuẩn đạo đức đối với phát triển AI, đảm bảo cân bằng phát triển với bảo mật dữ liệu và an ninh mạng. DEFA cũng thúc đẩy phát triển và sáng tạo thông qua hỗ trợ nghiên cứu, các hoạt động khởi nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, đây là nội dung quan trọng trong phát triển một hệ sinh thái AI. Tuy nhiên, dù hướng tới sự hòa hợp về quy định, một thách thức lớn trong quá trình đàm phán và đạt được thỏa thuận của hiệp định là khoảng cách về phát triển kinh tế số trong khu vực. Trong các quốc gia thành viên tồn tại sự chênh lệch đáng kể về hạ tầng công nghệ, khi một số nước sở hữu hệ sinh thái số tiên tiến trong khi các nước khác vẫn gặp khó khăn ngay cả với khả năng kết nối cơ bản. Đây cũng là một nội dung quan trọng cần được giải quyết trong hiệp định này. Các quan ngại về đạo đức và pháp lý cũng đặt ra những thách thức đáng kể. Việc đảm bảo quyền riêng tư dữ liệu, an ninh và sử dụng AI một cách có đạo đức là yếu tố quan trọng. Nếu thiếu các quy định chặt chẽ và hướng dẫn đạo đức rõ ràng, nguy cơ lạm dụng công nghệ AI sẽ gia tăng, dẫn đến sự mất niềm tin của công chúng và cản trở quá trình ứng dụng AI vào thực tiễn.

4. Khuyến nghị dành cho Việt Nam

Bài nghiên cứu có ý nghĩa và tính cấp thiết trong bối cảnh Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế số, trở thành một trong những thị trường phát triển nhanh nhất tại khu vực Đông Nam Á, đồng thời nổi lên như một điểm đến đầy tiềm năng đối với dòng vốn đầu tư trong lĩnh vực này. Sự phát triển nhanh chóng của hạ tầng công nghệ thông tin và hệ thống kết nối mạng đã đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia có số lượng người sử dụng Internet lớn nhất thế giới, qua đó tạo nền tảng quan trọng cho sự bùng nổ của thương mại điện tử và các dịch vụ số. Bên cạnh hạ tầng kết nối, lợi thế về nguồn nhân lực trẻ, có trình độ tiếp cận và làm chủ công nghệ mới, cùng với sự gia tăng nhanh chóng của các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ, là những yếu tố then chốt góp phần nâng cao sức hấp dẫn đầu tư của Việt Nam trong nền kinh tế số. Đặc biệt, thế hệ trẻ Việt Nam đang từng bước khẳng định vai trò chủ đạo trong tiến trình chuyển đổi số, với khả năng thích ứng công nghệ cao, qua đó tạo điều kiện tiếp cận các công nghệ tiên tiến, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực này. Trong bối cảnh đó, sự hỗ trợ của Nhà nước đối với hoạt động đổi mới sáng tạo và năng lực công nghệ thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này.

Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử đồng thời đặt ra những thách thức đáng kể về niềm tin và an toàn trong môi trường số. Người tiêu dùng trên thị trường thương mại điện tử thường đối mặt với các rủi ro liên quan đến bảo mật dữ liệu cá nhân, tin nhắn quảng cáo không mong muốn, cũng như các hành vi giả mạo và lừa đảo trên không gian mạng. Chính vì vậy, yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để bảo vệ người tiêu dùng và bảo đảm môi trường giao dịch số an toàn, minh bạch trở nên đặc biệt quan trọng.

Trên cơ sở đó, việc Việt Nam chủ động đề nghị gia nhập DEPA cũng như tham gia quá trình đàm phán DEFA phản ánh nỗ lực hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế số và hướng tới tiếp cận các tiêu chuẩn khu vực về dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Do đó, bài viết phân tích các cam kết liên quan đến thương mại dịch vụ số trong khuôn khổ DEPA và DEFA nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về định hướng pháp lý của Việt Nam, đồng thời làm rõ ý nghĩa của các cam kết này trong việc củng cố niềm tin của người tiêu dùng và tạo điều kiện cho thương mại điện tử phát triển bền vững.

Cùng với đó, Việt Nam cũng cần cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng và chuẩn bị tốt nguồn lực trong nước để đảm bảo tận dụng tốt những cơ hội từ hai hiệp định này mang lại cũng như hạn chế những tác động tiêu cực có thể có từ việc tham gia và thực thi hai hiệp định này. Thứ nhất, Việt Nam cần coi phát triển nguồn nhân lực số là một trụ cột trung tâm trong chiến lược hội nhập thương mại dịch vụ số theo các hiệp định DEPA và DEFA. Để tận dụng hiệu quả động lực tăng trưởng từ nền kinh tế số, Việt Nam cần ưu tiên triển khai giáo dục và đào tạo kỹ năng số một cách hệ thống ở tất cả các cấp đào tạo. Bên cạnh việc trang bị năng lực kỹ thuật, các chương trình đào tạo cần đặc biệt chú trọng đến các vấn đề về đạo đức trong môi trường số, bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh không gian mạng, qua đó đảm bảo quá trình hội nhập thương mại dịch vụ số diễn ra một cách bền vững và phù hợp với các chuẩn mực được thiết lập trong khuôn khổ DEPA và DEFA. Việc tham gia các hiệp định này không chỉ tạo động lực hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh nền kinh tế số thông qua việc đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu chung, mà còn góp phần nâng cao mức độ tin cậy của môi trường đầu tư, qua đó tăng sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ số. Tuy nhiên, nếu không kịp thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số, Việt Nam có thể đối mặt nguy cơ gia tăng thất nghiệp do tác động của chuyển đổi công nghệ và sự xuất hiện của các mô hình kinh doanh và dịch vụ số mới.

Thứ hai, Việt Nam cần sớm hoàn thiện và thống nhất khuôn khổ pháp lý điều chỉnh cơ chế thử nghiệm dữ liệu có kiểm soát theo hướng liên ngành. Hiện nay, các quy định về data sandbox tại Việt Nam vẫn mang tính phân tán, chủ yếu tập trung trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng. Trong khi đó, thử nghiệm dữ liệu trong các lĩnh vực phi tài chính có tác động trực tiếp đến thương mại dịch vụ số như trí tuệ nhân tạo, quản trị và chia sẻ dữ liệu, năng lượng số và các mô hình công nghệ mới chưa được pháp luật điều chỉnh, tạo khoảng trống pháp lý cho sự phát triển trong các lĩnh vực này. Khoảng trống pháp lý này đã làm phát sinh những khó khăn đáng kể trong quá trình triển khai trên thực tế, qua đó làm chậm quá trình ứng dụng các công nghệ và mô hình kinh doanh số mới. Trên cơ sở đó, Việt Nam cần sớm ban hành một đao luật khung ở cấp độ quốc gia về đổi mới sáng tạo và thử nghiệm có kiểm soát, phù hợp với các cam kết được ghi nhận trong hai hiệp định DEPA và DEFA. Đạo luật này cần xác định rõ các nguyên tắc cốt lõi của cơ chế thử nghiệm, bao gồm phạm vi áp dụng, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia, tiêu chí đánh giá và quản trị rủi ro, phương thức xử lý kết quả thử nghiệm cũng như các biện pháp bảo vệ dữ liệu trong môi trường thử nghiệm số.

Thứ ba, cần tăng cường các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia thương mại dịch vụ số một cách bền vững. Theo hai hiệp định DEPA và DEFA, doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng hưởng lợi trực tiếp nhờ khả năng tiếp cận thị trường thông qua các ưu đãi và hỗ trợ được quy định tại hiệp định. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp này, hạn chế trong tiếp cận và hiểu biết về các quy định pháp lý quốc tế, cũng như năng lực quản trị và vận hành số còn hạn chế là những rào cản đáng kể trong quá trình tham gia thương mại số. Do đó, Nhà nước cần triển khai các chương trình hỗ trợ, đào tạo và tập huấn chuyên sâu về thương mại số, tư vấn về các cam kết theo hai hiệp định DEPA và DEFA của Việt Nam cũng như các chính sách khuyến khích được Việt Nam đưa ra trong quá trình thực hiện các cam kết tại hai hiệp định, đồng thời cũng cung cấp thông tin về chính sách khuyến khích của các bên tại hiệp định, tạo cơ hội doanh nghiệp mở rộng thị trường. Các biện pháp này sẽ góp phần nâng cao mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp trong nước, qua đó giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể khai thác hiệu quả hơn các cơ hội phát triển từ hai hiệp định này.

5. Kết luận

Bài viết phân tích sự phát triển của các quy định pháp lý về thương mại dịch vụ số thông qua hai hiệp định chuyên biệt là DEPA và DEFA, trong bối cảnh WTO chưa đạt được đồng thuận về xây dựng khung pháp lý điều chỉnh thương mại và kinh tế số. Sự bế tắc này đã thúc đẩy các quốc gia và khu vực tìm kiếm các cơ chế hợp tác mới nhằm ứng phó với những thách thức do chuyển đổi số và sự gia tăng vai trò của dữ liệu trong nền kinh tế.

DEPA được xem là hiệp định tiên phong trong điều chỉnh thương mại dịch vụ số, với các quy định về dòng chảy dữ liệu đáng tin cậy, bảo vệ người tiêu dùng, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và thúc đẩy các công nghệ mới như AI và fintech. Đặc biệt, cấu trúc module linh hoạt của DEPA cho phép từng nội dung riêng lẻ có thể được tích hợp vào các hiệp định khác, qua đó cân bằng giữa tự do hóa thương mại số và các mục tiêu chính sách công như quyền riêng tư, an ninh và tính bao trùm, nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Trong khi đó, DEFA dự kiến ký kết vào năm 2026 phản ánh tham vọng của ASEAN trong việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý khu vực toàn diện cho kinh tế số. Hiệp định này tập trung vào hài hòa hóa các quy định về giao dịch điện tử, định danh số, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và dịch chuyển nguồn nhân lực, đồng thời thừa nhận sự chênh lệch về trình độ phát triển số giữa các quốc gia thành viên thông qua các cơ chế hợp tác, xây dựng năng lực và phát triển hạ tầng phù hợp.

Mặc dù cùng hướng tới thiết lập khuôn khổ pháp lý cho thương mại và kinh tế số, DEPA và DEFA có sự khác biệt đáng kể về cấu trúc và cách tiếp cận. DEPA theo mô hình module linh hoạt, trong khi DEFA được thiết kế như một hiệp định hài hòa hóa tiêu chuẩn nội khối ASEAN. Đối với Việt Nam, việc tham gia DEFA được đánh giá là phù hợp hơn nhờ sự tương đồng về trình độ phát triển và vai trò trực tiếp trong quá trình đàm phán, qua đó tạo điều kiện xây dựng các cam kết phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế xã hội trong nước.

Nhìn chung, DEPA và DEFA không chỉ là các hiệp định thương mại mà còn định hình kiến trúc hạ tầng pháp lý cho thương mại số và thương mại dịch vụ trong nền kinh tế dựa trên dữ liệu. Việc tham gia các hiệp định này đòi hỏi Việt Nam có sự chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng, nguồn nhân lực và thể chế pháp lý, đặc biệt là hoàn thiện khung pháp lý cho đổi mới sáng tạo, cơ chế thử nghiệm dữ liệu có kiểm soát và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong tiến trình hội nhập kinh tế số toàn cầu.

————————

Tài liệu tham khảo

1. Văn bản pháp luật

Digital Economy Partnership Agreement, 2020

Framework for Negotiating ASEAN Digital Economy Framework Agreement, 2023.

2. Bài báo, bài nghiên cứu khoa học

Andrew D. Mitchell, Neha Mishra, “Digital trade integration in preferential trade agreements,” Working Paper, Asia-Pacific Research and Training Network on Trade (2020): 1.

International and Comparative Law Research Center, “Rules for Digital Trade: The Digital Economy Partnership Agreement (DEPA),” (2020): 13.

Keita Oikawa, “ASEAN Data Governance: Implications for the Digital Economy Framework Agreement,” ERIA Research Project Report, No. 10 (2025): 1.

Merit E. Janow, and Petros C. Mavroidis, “Digital trade, e-commerce, the WTO and regional frameworks,” World Trade Review 18, no. S1 (2019): S6.

Michael A. Peters, “Digital trade, digital economy and the digital economy partnership agreement (DEPA),” Educational Philosophy and Theory 55, no. 7 (2023): 752.

Mira Burri et al., “The evolution of digital trade law: Insights from TAPED,” World Trade Review 23, no. 2 (2024): 190.

Miying Yang et al., “The adoption of digital technologies in supply chains: Drivers, process and impact,” Technological Forecasting and Social Change 169 (2021): 7.

Mukhamad Zulianto, “ASEAN Digital Economy Framework Agreement (DEFA): Opportunities and Challenges for Vietnam”, Asia-Pacific Journal of Public Policy 10, no. 01 (2024): 59. 



https%3A%2F%2Fphaply.net.vn%2Fcac-cam-ket-ve-thuong-mai-dich-vu-so-theo-hiep-dinh-doi-tac-kinh-te-so-va-hiep-dinh-khung-kinh-te-so-asean-a261306.html

Exit mobile version