Home Vào công việc AI - Bán hàng & marketing Tìm động lực tăng trưởng xuất nhập khẩu theo chiều sâu

Tìm động lực tăng trưởng xuất nhập khẩu theo chiều sâu

0

Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, cần đẩy mạnh thương mại điện tử xuyên biên giới, đặc biệt là thương mại điện tử phục vụ xuất khẩu giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B)

Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), muốn thúc đẩy xuất khẩu, trước hết phải xây dựng nền sản xuất vững mạnh, cả công nghiệp và nông nghiệp, với các ngành công nghiệp nền tảng và sản phẩm chủ lực làm trụ cột.

Cùng với đó là nâng cao giá trị nội địa thông qua khoa học – công nghệ. Phát triển sản xuất không chỉ theo chiều rộng mà phải dựa vào ứng dụng công nghệ, đặc biệt trong bối cảnh AI tác động sâu sắc tới hoạt động sản xuất – kinh doanh. Việc chủ động nguồn nguyên liệu, đẩy mạnh nghiên cứu – phát triển (R&D) cũng là yêu cầu then chốt.

Ở góc độ thị trường, cần tiếp tục đàm phán các FTA mới và nâng cấp các hiệp định hiện có. Dù đã ký 17 FTA, Việt Nam vẫn còn dư địa tại Nam Á, Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latin; một số hướng đi đang được nghiên cứu như Mercosur hay Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC).

Song song với đó là thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới, nhất là thương mại điện tử B2B phục vụ xuất khẩu, đồng thời đa dạng hóa thị trường để giảm phụ thuộc và phân tán rủi ro.

Xúc tiến thương mại cần đổi mới theo hướng xây dựng thương hiệu, tăng cường truy xuất nguồn gốc, đáp ứng các tiêu chuẩn – đặc biệt là tiêu chuẩn môi trường và giảm phát thải – vốn ngày càng trở thành điều kiện tiếp cận thị trường và lợi thế cạnh tranh.

Cuối cùng là thuận lợi hóa thương mại và phát triển logistics, nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí đưa hàng hóa tới khách hàng. Trong bối cảnh chi phí logistics còn chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành, việc phát huy lợi thế địa kinh tế và nâng cao năng lực doanh nghiệp logistics trong nước được xem là đòn bẩy quan trọng cho xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

TS. Cấn Văn Lực: Cần xây dựng hệ thống tài chính hỗ trợ xuất khẩu, bao gồm ngân hàng chính sách hoặc ngân hàng xuất nhập khẩu, quỹ bảo hiểm tín dụng và quỹ bảo lãnh vay vốn cho doanh nghiệp xuất khẩu

Xây dựng hệ thống tài chính hỗ trợ xuất khẩu

TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế cho rằng, kinh nghiệm quốc tế cho thấy muốn thúc đẩy xuất khẩu bền vững, trước hết cần có chiến lược phát triển dài hạn, xác định rõ vai trò của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế. Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt và hoạch định, song triển khai phải tuân thủ nguyên tắc thị trường, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh.

Các quốc gia thành công đều chú trọng phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực công nghệ thông qua đầu tư giáo dục, đào tạo nghề và R&D. Hạ tầng và logistics được coi là nền tảng, với đầu tư đồng bộ vào cảng biển, đường cao tốc, khu và đặc khu kinh tế nhằm giảm chi phí, tăng kết nối.

Song song với đó là xây dựng hệ thống tài chính hỗ trợ xuất khẩu, gồm ngân hàng chính sách, bảo hiểm tín dụng và quỹ bảo lãnh vay vốn cho doanh nghiệp. Môi trường cạnh tranh trong nước cũng cần được cải thiện, tạo sân chơi bình đẳng giữa doanh nghiệp nội địa và FDI. Đặc biệt, chất lượng thể chế phải được nâng cao, bảo đảm chính sách hỗ trợ xuất khẩu được thực thi minh bạch, hiệu quả, có giám sát độc lập.

Về thương mại và xúc tiến xuất khẩu, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh yêu cầu giữ vững mặt trận xuất khẩu, đồng thời đa dạng hóa thị trường, tận dụng hiệu quả các FTA như EVFTA, CPTPP, RCEP để giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống và nâng cao khả năng chống chịu trước biến động địa chính trị. Cùng với hàng hóa, cần đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ, nhất là logistics và du lịch; đồng thời đổi mới phương thức xúc tiến, nâng vai trò của Cục Xúc tiến Thương mại và hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, gắn với xây dựng thương hiệu quốc gia.

Ở góc độ tài chính, trọng tâm là mở rộng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thông qua các quỹ bảo lãnh và nâng cao hiệu quả Quỹ Phát triển DNNVV. Đồng thời triển khai các gói tín dụng ưu đãi cho chuyển đổi công nghệ trong các ngành xuất khẩu chủ lực; đẩy mạnh tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ chuỗi cung ứng và tín dụng xanh. Chính sách thuế, hoàn thuế cần tiếp tục cải cách theo hướng đơn giản thủ tục, rút ngắn thời gian để tăng vốn lưu động cho doanh nghiệp.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần chuyển mạnh sang sản xuất theo chiều sâu, chế biến sâu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này gắn với đổi mới công nghệ, phát triển nhân lực, chuyển đổi số, nâng tỷ lệ nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Cùng với đó là khuyến khích doanh nghiệp FDI tăng sử dụng linh kiện, sản phẩm từ nhà cung ứng trong nước; tập trung phát triển sản phẩm công nghệ cao, xây dựng – bảo vệ thương hiệu và hình thành các doanh nghiệp lớn trong những ngành công nghiệp chiến lược.

Về “xanh hóa” xuất khẩu, cần đẩy nhanh đầu tư hạ tầng xanh, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải carbon; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn gắn với chuyển đổi số. Trước các rào cản kỹ thuật xanh, doanh nghiệp cần thực hiện kiểm kê khí nhà kính, minh bạch chuỗi cung ứng và số hóa truy xuất nguồn gốc. Logistics cũng phải chuyển xanh thông qua vận tải đa phương thức, kho bãi thông minh và sử dụng năng lượng sạch, đồng thời phát huy vai trò của tài chính xanh và thị trường carbon trong hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu.

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội: Cần có tư duy “tích gió thành bão”, tận dụng tối đa mọi dư địa xuất khẩu

“Tích gió thành bão”, tận dụng tối đa mọi dư địa xuất khẩu

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng, bên cạnh các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, cần có tư duy “góp gió thành bão”, khai thác tối đa mọi dư địa xuất khẩu. Không chỉ nhóm hàng mũi nhọn, mà cả những sản phẩm quy mô nhỏ, nếu có khả năng xuất khẩu, đều cần được thúc đẩy. Thực tế cho thấy, nhiều mặt hàng chưa được định danh là chủ lực vẫn có tiềm năng đáng kể, thậm chí tỷ lệ nội địa hóa cao hơn một số sản phẩm đang được ưu tiên. Cách tiếp cận này giúp huy động rộng rãi nguồn lực xã hội, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, thông qua thương mại điện tử và các hình thức giao thương mới.

Về chính sách, ông Phan Đức Hiếu nhấn mạnh, bên cạnh việc tiếp tục mở rộng các FTA, điều quan trọng hơn là tận dụng hiệu quả 17 hiệp định đã ký. Cần đánh giá rõ mức độ hưởng lợi thực chất của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ sản xuất. Hiện nay, nhiều chủ thể có nhu cầu xuất khẩu nhưng chưa tiếp cận được các FTA, đòi hỏi chính sách hỗ trợ phải bao trùm và linh hoạt hơn.

Từ thực tiễn, ông gợi mở mô hình tổ chức xuất khẩu trung gian, cho phép nhiều doanh nghiệp nhỏ liên kết để hình thành quy mô đủ lớn, bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, quy trình thống nhất và sản lượng ổn định. Mô hình này giúp tích tụ hàng hóa, kiểm soát chất lượng đồng bộ và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Đồng thời, cần nghiên cứu khả năng doanh nghiệp Việt Nam chủ động lập pháp nhân ở nước ngoài để tổ chức xuất nhập khẩu, giảm phụ thuộc vào trung gian.

Đặc biệt, ông nhấn mạnh vai trò của xây dựng thương hiệu, nhất là với nông sản như cà phê. Thương hiệu cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế hiện còn yếu, thiếu thông tin nền tảng về chủng loại, phối trộn, mức độ rang, chất lượng hạt, vùng trồng và quy trình sản xuất. Sự thiếu vắng “câu chuyện sản phẩm” khiến người tiêu dùng khó nhận diện và lựa chọn hàng Việt, dù Việt Nam đã có vị trí trên bản đồ cà phê thế giới.

Theo ông Phan Đức Hiếu, đầu tư cho thương hiệu là đầu tư cần thiết và hiệu quả, trong đó Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, doanh nghiệp là chủ thể hưởng lợi. Chính sách cần bao trùm cả các sản phẩm quy mô nhỏ, kết hợp hài hòa giữa mục tiêu lớn và giá trị tích lũy từ các phân khúc nhỏ, qua đó tạo nền tảng bền vững cho tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn tới.

Anh Thơ

theo Chinhphu

https%3A%2F%2Fthanhnienviet.vn%2Fbai-2-tim-dong-luc-tang-truong-xuat-nhap-khau-theo-chieu-sau-209260215191549731.htm

Exit mobile version