(Pháp lý). Với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số đang ngày càng gia tăng với diễn biến phức tạp. Vì vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử và xem xét việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn là hết sức cần thiết.
Tóm tắt: Với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số đang ngày càng gia tăng với diễn biến phức tạp. Vì vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử và xem xét việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn là hết sức cần thiết. Bài viết này sẽ tập trung phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường thương mại điện tử. Trên cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, bài viết chỉ ra những kết quả đã đạt được, cùng với đó là một số hạn chế, bất cập còn tồn động. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh kinh tế số, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử tại Việt Nam.
Từ khóa: Pháp luật Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử
VIETNAMESE LAW ON HANDLING INTELLECTUAL PROPERTY RIGHTS INFRINGEMENTS IN E-COMMERCE: CURRENT SITUATION AND RECOMMENDATIONS
Abstract: With the rapid growth of e-commerce, infringements of intellectual property rights in the digital environment have been increasing in both scale and complexity. Therefore, it is essential to examine the legal provisions governing the handling of intellectual property rights infringements in e-commerce and to consider how these provisions are applied in practice. This article analyzes the current Vietnamese legal provisions on handling intellectual property rights infringements in the e-commerce environment. Based on an assessment of the practical application of these provisions, the article highlights the achievements attained as well as several existing limitations and shortcomings. On that basis, it proposes a number of recommendations to improve the legal framework and strengthen enforcement effectiveness in order to protect intellectual property rights in the context of the digital economy, thereby contributing to the development of e-commerce in Vietnam.
Keywords: Vietnamese law, intellectual property rights, handling of intellectual property rights infringements, e-commerce.
I. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh thương mại điện tử (TMĐT) phát triển mạnh mẽ, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tại Việt Nam cũng diễn ra ngày càng phổ biến và tinh vi. Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định điều chỉnh, song thực tiễn áp dụng pháp luật để xử lý vi phạm vẫn còn nhiều hạn chế.
Bài viết tập trung trả lời các câu hỏi: (i) Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định như thế nào về xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT trong TMĐT; (ii) Thực tiễn áp dụng pháp luật đã đạt được những kết quả gì, còn tồn tại những hạn chế, bất cập nào; và (iii) Cần có những giải pháp gì nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.
Các nghiên cứu trước đây có xu hướng tiếp cận vấn đề theo hai hướng chính. Một số công trình tập trung phân tích thực trạng vi phạm trong thực tiễn, trong khi một số nghiên cứu khác tiếp cận từ góc độ pháp luật nhưng chưa đi sâu vào phân tích pháp luật hoặc chưa cập nhật các thay đổi pháp lý mới. Do đó, bài viết hướng tới bổ sung khoảng trống nghiên cứu thông qua việc phân tích vấn đề xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT trong TMĐT trên cơ sở pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài viết sử dụng các phương pháp như tổng hợp và phân tích văn bản pháp luật, đánh giá thực tiễn, qua đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm trong thực tiễn.
II. Quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT và trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong môi trường thương mại điện tử
2.1. Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Căn cứ Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022 và 2025), hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) có thể bị xử lý thông qua ba nhóm biện pháp chính, bao gồm: biện pháp dân sự, biện pháp hành chính và biện pháp hình sự. Bên cạnh đó, trong những trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn có thể áp dụng các biện pháp bổ trợ như biện pháp khẩn cấp tạm thời, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT, cũng như các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính.
Thứ nhất, biện pháp dân sự được xác định là công cụ pháp lý nền tảng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền SHTT. Các biện pháp dân sự bao gồm: buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc bồi thường thiệt hại; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; và buộc tiêu hủy hoặc xử lý hàng hóa xâm phạm. Đáng chú ý, quy định tại khoản 7 Điều 202 (sửa đổi năm 2025) đã bổ sung cơ chế buộc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập đối với nội dung, tài khoản hoặc các định danh Internet liên quan đến hành vi xâm phạm. Sự bổ sung này phản ánh xu hướng điều chỉnh pháp luật thích ứng với môi trường số, nơi các hành vi vi phạm diễn ra với tần suất cao và phạm vi rộng.
Xét về bản chất, biện pháp dân sự có ưu thế ở khả năng khôi phục trạng thái cân bằng lợi ích thông qua cơ chế bồi thường và khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi trên thực tế, đặc biệt trong bối cảnh thương mại điện tử, còn hạn chế. Các yếu tố như thời gian tố tụng kéo dài, chi phí cao và khó khăn trong thu thập, bảo toàn chứng cứ điện tử đã làm giảm tính khả thi của cơ chế này. Ngoài ra, việc định lượng thiệt hại, đặc biệt là thiệt hại phi vật chất như uy tín và giá trị thương hiệu, vẫn thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng trên thực tiễn.
Thứ hai, biện pháp hành chính hiện là cơ chế được áp dụng phổ biến nhất trong xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT tại Việt Nam. Nghị định số 98/2020/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã thiết lập khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ cho việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, bao gồm cả thương mại điện tử. Theo đó, các hành vi vi phạm như kinh doanh hàng giả, hàng xâm phạm quyền SHTT, cung cấp thông tin sai lệch hoặc không thực hiện nghĩa vụ kiểm soát nội dung trên nền tảng số có thể bị áp dụng các chế tài như phạt tiền, tịch thu tang vật, đình chỉ hoạt động kinh doanh và buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả.
Ưu điểm nổi bật của biện pháp hành chính nằm ở tính kịp thời và khả năng can thiệp nhanh chóng, đặc biệt phù hợp với đặc thù của môi trường thương mại điện tử, nơi hành vi vi phạm có thể lan rộng trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, từ góc độ hiệu quả răn đe, mức xử phạt hiện hành trong nhiều trường hợp vẫn chưa tương xứng với lợi ích kinh tế thu được từ hành vi vi phạm. Đồng thời, biện pháp hành chính chủ yếu mang tính trừng phạt, trong khi chưa bảo đảm đầy đủ chức năng bù đắp thiệt hại cho chủ thể quyền, do đó chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền SHTT một cách toàn diện.
Thứ ba, biện pháp hình sự được xem là công cụ chế tài nghiêm khắc nhất, áp dụng đối với các hành vi xâm phạm có tính chất nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn hoặc được thực hiện có tổ chức. Theo Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi năm 2025), cá nhân hoặc pháp nhân thương mại vi phạm quyền SHTT có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự. Việc áp dụng biện pháp này không chỉ nhằm trừng trị hành vi vi phạm mà còn góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa chung.
Trong bối cảnh thương mại điện tử, các hành vi xâm phạm ngày càng có xu hướng chuyên nghiệp hóa, với sự tham gia của nhiều chủ thể trung gian và yếu tố xuyên biên giới. Điều này làm gia tăng nhu cầu áp dụng biện pháp hình sự nhằm xử lý triệt để các hành vi vi phạm có tổ chức. Tuy nhiên, việc thực thi trên thực tế vẫn gặp nhiều thách thức. Một số khái niệm định tội như “quy mô thương mại” hay “thu lợi bất chính” chưa được định nghĩa cụ thể, dẫn đến khó khăn trong việc xác định dấu hiệu cấu thành tội phạm. Đồng thời, việc thu thập chứng cứ trong môi trường số, đặc biệt đối với các vụ việc có yếu tố nước ngoài, vẫn là rào cản đáng kể đối với cơ quan tiến hành tố tụng.
Tóm lại, mặc dù hệ thống pháp luật hiện hành đã thiết lập đầy đủ ba nhóm biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT, song hiệu quả thực thi vẫn phụ thuộc đáng kể vào đặc thù của từng cơ chế và bối cảnh áp dụng. Trong đó, sự phối hợp linh hoạt giữa các biện pháp, cùng với việc hoàn thiện các quy định pháp lý liên quan đến môi trường số, được xem là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền SHTT trong giai đoạn hiện nay..
2.2. Trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong môi trường thương mại điện tử
Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung đến năm 2025), hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể được xử lý thông qua ba nhóm biện pháp: dân sự, hành chính và hình sự. Đồng thời, pháp luật cũng thiết lập cơ chế phối hợp giữa các chủ thể liên quan nhằm bảo đảm hiệu quả thực thi trong môi trường thương mại điện tử.
Trước hết, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh quyền và hành vi xâm phạm khi yêu cầu xử lý. Bên cạnh đó, pháp luật đặt ra cơ chế trách nhiệm ngược, theo đó chủ thể quyền có thể phải bồi thường thiệt hại nếu lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền, qua đó bảo đảm cân bằng lợi ích và hạn chế việc lạm quyền.
Đối với người bán trên sàn thương mại điện tử, pháp luật yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về danh tính và hoạt động kinh doanh; công khai thông tin về hàng hóa, dịch vụ; đồng thời thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến điều kiện kinh doanh và chất lượng hàng hóa. Những quy định này góp phần nâng cao tính minh bạch và khả năng truy xuất trong môi trường số.
Đối với sàn thương mại điện tử và các chủ thể trung gian, trách nhiệm được mở rộng theo hướng chủ động kiểm soát. Cụ thể, các nền tảng phải công bố thông tin minh bạch, kiểm tra và kịp thời gỡ bỏ nội dung vi phạm, đồng thời phối hợp với cơ quan nhà nước trong xử lý tranh chấp. Các chủ thể trung gian như dịch vụ hạ tầng, logistics và thanh toán có nghĩa vụ ngăn chặn hoặc từ chối cung cấp dịch vụ đối với hành vi vi phạm. Đáng chú ý, pháp luật sở hữu trí tuệ (sửa đổi năm 2025) đã bổ sung cơ chế trách nhiệm và miễn trừ có điều kiện đối với nhà cung cấp dịch vụ trung gian, qua đó cân bằng giữa bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và duy trì hoạt động của hệ sinh thái số.
Cuối cùng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền giữ vai trò trung tâm trong việc ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực thi pháp luật; tiến hành thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm; đồng thời thực hiện hoạt động tuyên truyền và hợp tác quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Nhìn chung, hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử phụ thuộc vào sự kết hợp đồng bộ giữa các biện pháp pháp lý và sự phối hợp của các chủ thể liên quan, đặc biệt trong bối cảnh các hành vi vi phạm ngày càng phức tạp và mang tính xuyên biên giới..
III. Thực trạng áp dụng pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử tại Việt Nam
3.1. Thực trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên các nền tảng thương mại điện tử
– Các hình thức vi phạm phổ biến: Sự phát triển mạnh mẽ của TMĐT tại Việt Nam kéo theo sự gia tăng đáng báo động về các hành vi xâm phạm quyền SHTT trên môi trường số. Việc bảo vệ quyền SHTT trong TMĐT khó khăn hơn nhiều so với thương mại truyền thống do đối tượng giao dịch thường được số hóa và bất kỳ ai cũng có thể nhanh chóng tạo ra bản sao mà khó phân biệt với bản gốc.[1] Các vi phạm ngày càng đa dạng về hình thức và tinh vi về phương thức thực hiện.
Thứ nhất, hàng giả, hàng nhái tràn lan trên các sàn TMĐT. Đây là hình thức vi phạm phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số vụ việc được phát hiện. Các đối tượng đã lợi dụng mô hình hộ kinh doanh để hoạt động ngoài sự kiểm soát, bán hàng giả mạo các thương hiệu nổi tiếng trên không gian mạng. Các sản phẩm thời trang, giày dép, gia dụng là những mặt hàng thường xuyên bị làm giả.
Thứ hai, xâm phạm nhãn hiệu. Các gian hàng trực tuyến thường sử dụng trái phép nhãn hiệu đã đăng ký của người khác để quảng bá và bán sản phẩm, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Nhiều trường hợp sử dụng hình ảnh, mô tả sản phẩm của thương hiệu chính hãng nhưng bán hàng giả, hàng nhái với giá rẻ hơn đáng kể.
Thứ ba, xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan. Tình trạng vi phạm bản quyền đối với các sản phẩm số như sách, nhạc, phim, phần mềm diễn ra tràn lan và phổ biến.
Thứ tư, lợi dụng công nghệ mới để vi phạm. Các đối tượng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, sử dụng livestream bán hàng, mạng xã hội và dịch vụ chuyển phát nhanh để tiêu thụ hàng hóa vi phạm. Hoạt động livestream trên các nền tảng như Facebook, TikTok đang bị lợi dụng để quảng cáo thổi phồng, bán thực phẩm giả, kém chất lượng.
–Vụ việc điển hình:
Vụ việc kho quần áo giả nhãn hiệu tại Hà Nội (tháng 12/2025): Đoàn kiểm tra của Phòng Nghiệp vụ Quản lý thị trường, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước phối hợp với Phòng An ninh mạng Công an Thành phố Hà Nội đã kiểm tra đột xuất cơ sở kinh doanh trên phố Hoàng Công Chất. Tại đây, lực lượng chức năng phát hiện 5.200 bộ quần áo thể thao gắn nhãn hiệu Nike, 1.200 bộ gắn nhãn hiệu Adidas, 14 áo thể thao nhãn hiệu Puma không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc. Đại diện cơ sở cho biết phần lớn số hàng này được kinh doanh trên các nền tảng TMĐT. Vụ việc cho thấy các đối tượng đã lợi dụng mô hình hộ kinh doanh nhỏ lẻ để hoạt động ngoài sự kiểm soát, với thủ đoạn ngày càng tinh vi.[2]
Vụ kiện First News – Lazada: Đây là vụ kiện hy hữu khi chủ thể quyền khởi kiện sàn TMĐT về hành vi tiếp tay tiêu thụ sách giả. First News – Trí Việt yêu cầu Lazada tháo gỡ toàn bộ thông tin các gian hàng bán sách giả, có biện pháp quản lý, kiểm soát và ngăn chặn tình trạng buôn bán sách giả trên sàn. Vụ việc đặt ra vấn đề về trách nhiệm của sàn TMĐT trong việc kiểm soát hàng hóa trên nền tảng của mình.[3]
3.2. Kết quả đạt được trong công tác xử lý vi phạm
– Kết quả xử lý từ cơ quan quản lý nhà nước: Theo báo cáo của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), chỉ riêng năm 2025, cơ quan chức năng đã gỡ bỏ hơn 47.000 sản phẩm vi phạm và xử lý khoảng 17.000 gian hàng trên các sàn TMĐT do có dấu hiệu vi phạm liên quan đến hàng giả, hàng nhái, hàng xâm phạm quyền SHTT. Con số này tăng mạnh so với các năm trước (trước đây chỉ đạt chưa tới 10.000 sản phẩm/năm), cho thấy nỗ lực đáng kể của cơ quan quản lý.[4]
Trong năm 2025, lực lượng Quản lý thị trường cả nước đã kiểm tra hơn 27.500 vụ việc, xử lý trên 23.400 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách Nhà nước gần 372 tỷ đồng. Riêng quý III/2025, các đơn vị, địa phương đã phát hiện, bắt giữ và xử lý hơn 31.000 vụ việc liên quan đến buôn lậu và gian lận thương mại, thu nộp ngân sách vượt 3.600 tỷ đồng.[5]
Thực hiện Kế hoạch cao điểm giám sát, kiểm tra, xử lý các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và xâm phạm quyền SHTT, Bộ Công Thương đã gỡ bỏ 44.000 sản phẩm vi phạm và 12.000 gian hàng vi phạm qua TMĐT, tập trung vào các mặt hàng gia dụng, giày dép, sản phẩm thời trang.[6]
Đặc biệt, cơ quan chức năng đã khởi tố 462 vụ án hình sự với 915 đối tượng, phản ánh mức độ gia tăng cả về quy mô lẫn tính chất tinh vi của các hành vi vi phạm.[7] Đây là tín hiệu tích cực trong việc áp dụng biện pháp hình sự để xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT nghiêm trọng.
Vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước ngày càng được thể hiện rõ. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì nghiên cứu, đề xuất sửa đổi các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ và các quy định về xử phạt vi phạm hành chính, phối hợp với Bộ Công an xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thực thi quyền SHTT, hoàn thành và đưa vào vận hành trong năm 2026.
Bộ Công an được giao đẩy mạnh kiểm tra, kiểm soát, tăng cường áp dụng xử lý hình sự đối với các vụ việc xâm phạm quyền SHTT, phối hợp nghiên cứu đề xuất sửa đổi Bộ luật Hình sự theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh và nâng mức xử lý hình sự đối với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả và quyền liên quan.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 30/01/2026 về việc tăng cường thực thi quyền SHTT, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện quyết liệt các giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả thực thi quyền SHTT, đấu tranh ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm với phương châm “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền.[8]
– Cơ chế phối hợp giữa chủ thể quyền và sàn thương mại điện tử: Một trong những điểm sáng trong công tác xử lý vi phạm thời gian qua là sự hình thành và phát triển cơ chế phối hợp giữa chủ thể quyền SHTT và các sàn TMĐT. Sự phối hợp này thường được thực hiện thông qua cơ chế “thông báo và gỡ bỏ” (notice and takedown). Theo đó, chủ thể quyền gửi yêu cầu kèm theo chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm, còn sàn TMĐT có trách nhiệm xem xét và kịp thời gỡ bỏ hoặc hạn chế truy cập đối với nội dung vi phạm. Điều 36 Nghị định 52/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 85/2021/NĐ-CP) quy định, thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch TMĐT phải có biện pháp xử lý kịp thời khi phát hiện hoặc nhận được phản ánh về hành vi kinh doanh vi phạm pháp luật; có trách nhiệm phối hợp với các chủ thể quyền SHTT rà soát và gỡ bỏ các sản phẩm xâm phạm quyền SHTT.
Trên thực tế, nhiều sàn TMĐT lớn đã bắt đầu xây dựng các chương trình hợp tác với chủ thể quyền để bảo vệ thương hiệu. Các chương trình này cho phép chủ thể quyền đăng ký, cung cấp thông tin về sản phẩm chính hãng và thông báo vi phạm qua các kênh chính thức. Có thể kể đến Shopee triển khai chương trình Shopee Brand IP Protection, cho phép chủ thể quyền đăng ký tài khoản, xác thực quyền sở hữu và gửi yêu cầu xử lý vi phạm thông qua cổng thông tin chuyên biệt. Ngoài ra, một số sàn đã dần áp dụng công nghệ AI để tự động phát hiện và cảnh báo các sản phẩm có dấu hiệu vi phạm dựa trên hình ảnh, mô tả.
3.3. Những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường thương mại điện tử
Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử được thực hiện thông qua các biện pháp dân sự, hành chính và hình sự, đồng thời gắn với trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong môi trường số.
Trước hết, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có nghĩa vụ chứng minh quyền và hành vi xâm phạm khi yêu cầu xử lý. Đồng thời, pháp luật đặt ra cơ chế trách nhiệm đối với trường hợp lạm dụng quyền, nhằm bảo đảm cân bằng lợi ích và hạn chế việc sử dụng quyền không chính đáng.
Đối với người bán trên nền tảng thương mại điện tử, pháp luật yêu cầu cung cấp thông tin trung thực về danh tính và hoạt động kinh doanh, công khai thông tin hàng hóa, dịch vụ và thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến điều kiện kinh doanh. Quy định này góp phần tăng cường tính minh bạch và khả năng kiểm soát giao dịch.
Đối với sàn thương mại điện tử và các chủ thể trung gian, trách nhiệm được thiết kế theo hướng chủ động kiểm soát, bao gồm nghĩa vụ rà soát, gỡ bỏ nội dung vi phạm và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, pháp luật ghi nhận cơ chế miễn trừ trách nhiệm có điều kiện đối với chủ thể trung gian, nhằm cân bằng giữa yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và duy trì hoạt động của nền tảng số.
Cuối cùng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền giữ vai trò tổ chức thực thi, bao gồm ban hành, hướng dẫn pháp luật, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Nhìn chung, hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử phụ thuộc vào sự phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể và việc vận dụng linh hoạt các biện pháp pháp lý trong bối cảnh môi trường số ngày càng phức tạp..
Ảnh minh hoạ
IV. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam
Thứ nhất, khắc phục tình trạng phân tán và chưa cập nhật kịp thời của hệ thống pháp luật. Cần rà soát và điều chỉnh các quy định có liên quan theo hướng bảo đảm sự thống nhất giữa các văn bản luật và dưới luật, tránh tình trạng mỗi văn bản quy định riêng lẻ, thiếu sự liên kết hoặc thậm chí mâu thuẫn với nhau. Các quy định về thẩm quyền xử lý hay biện pháp xử lý vi phạm cần được quy định rõ ràng, thống nhất hoặc có sự dẫn chiếu cụ thể giữa các văn bản để cơ quan có thẩm quyền dễ xác định căn cứ pháp lý. Đồng thời, nên nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn chuyên biệt về xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT trong môi trường TMĐT nhằm tạo khung pháp lý hệ thống hơn. Cùng với đó, pháp luật cũng cần được cập nhật kịp thời. Trong bối cảnh các mô hình kinh doanh mới như livestream bán hàng hay tiếp thị liên kết phát triển nhanh, cần kịp thời ban hành hướng dẫn chi tiết và thiết lập cơ chế rà soát, đánh giá định kỳ để sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật cho phù hợp với thực tiễn.
Thứ hai, khắc phục khó khăn trong việc xác định chủ thể vi phạm. Để nâng cao hiệu quả trong thực tiễn, cần sớm triển khai đồng bộ các quy định của Luật Thương mại điện tử 2025 về nghĩa vụ xác thực điện tử đối với người bán trên nền tảng số. Bên cạnh đó, cần tăng cường kết nối với hệ thống định danh điện tử quốc gia (VNeID) để bảo đảm việc xác thực được thực hiện chính xác, hạn chế tình trạng sử dụng thông tin giả mạo, không đầy đủ hoặc tài khoản ảo để vi phạm. Đồng thời, cần quy định rõ hơn về trách nhiệm của nền tảng TMĐT trong việc định kỳ rà soát, cập nhật thông tin định danh của người bán. Chẳng hạn, trường hợp nào không hoàn thành xác thực điện tử theo yêu cầu, sàn TMĐT sẽ có trách nhiệm tiến hành hạn chế quyền đăng bán hoặc tạm ngừng hoạt động của các tài khoản đó.
Thứ ba, xây dựng cơ chế phát hiện vi phạm mang tính chủ động. Với các nền tảng TMĐT, cần khuyến khích các sàn TMĐT đầu tư, ứng dụng thêm công nghệ AI, phân tích dữ liệu lớn nhằm tự động phát hiện, cảnh báo và ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền SHTT ngay từ giai đoạn sớm. Với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cần tổ chức đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ thực thi về cách thức thu thập, lưu trữ, bảo quản và đánh giá chứng cứ điện tử, truy vết dòng tiền cũng như xác minh dữ liệu giao dịch trực tuyến và nhận diện hành vi vi phạm trên môi trường số. Cụ thể, có thể tận dụng các chương trình hợp tác quốc tế và cơ chế phối hợp với các doanh nghiệp công nghệ để góp phần nâng cao năng lực điều tra số và xử lý chứng cứ điện tử trong bối cảnh vi phạm ngày càng tinh vi. Ngoài ra, điều cần thiết là đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm phục vụ giám sát, phân tích dữ liệu để từ đó rút ngắn thời gian xử lý và tăng tính chính xác trong quá trình giải quyết vụ việc. Khi năng lực chuyên môn về chứng cứ điện tử và điều tra số được nâng cao, cùng với cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển, cơ chế giám sát có thể chuyển dần từ thụ động sang chủ động phát hiện vi phạm, giảm phụ thuộc vào yêu cầu, phản ánh của chủ thể quyền.
Thứ tư, tăng cường hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cần xây dựng quy trình phối hợp rõ ràng giữa các lực lượng như quản lý thị trường, công an, hải quan, cơ quan quản lý về TMĐT và các cơ quan liên quan khác. Phải xác định cụ thể đầu mối tiếp nhận, cơ chế chuyển giao hồ sơ và phân định rõ ràng trách nhiệm của từng cơ quan trong từng giai đoạn xử lý. Đồng thời, thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu thống nhất để hạn chế chồng chéo, kéo dài thời gian giải quyết. Với các vụ việc có yếu tố xuyên biên giới, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế; thúc đẩy ký kết và thực hiện các điều ước, thỏa thuận song phương, đa phương về tương trợ tư pháp; trao đổi thông tin cũng như phối hợp thực thi với cơ quan nước ngoài có thẩm quyền.
Thứ năm, tăng cường tính răn đe của khung chế tài. Với biện pháp hành chính, cần điều chỉnh và nâng cao mức xử phạt hành chính cho phù hợp với sự biến đổi nhanh của thực tiễn. Nghị định 131/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan đã được ban hành từ lâu với mức xử phạt có phần không phù hợp với thực tiễn hiện nay[9] nhưng mới đây, vào ngày 15/02/2026, Nghị định mới chính thức hết hiệu lực toàn bộ. Việc sửa đổi pháp luật thường diễn ra theo chu kỳ nhất định dễ dẫn đến khả năng mức xử phạt tại từng thời điểm có thể chưa theo kịp thực tiễn, làm giảm hiệu quả răn đe và phòng ngừa vi phạm. Ngoài việc tăng mức phạt hành chính, cần tăng cường áp dụng biện pháp dân sự. Sự xuất hiện của Tòa chuyên trách về SHTT giúp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp, qua đó khuyến khích các chủ thể quyền khởi kiện dân sự. Khi cơ chế tố tụng dân sự được vận hành hiệu quả, các biện pháp dân sự, đặc biệt là bồi thường thiệt hại, có điều kiện được áp dụng thường xuyên hơn, góp phần nâng cao tính răn đe của khung chế tài. Về biện pháp hình sự, cần làm rõ các dấu hiệu định tội như “quy mô thương mại”, “thu lợi bất chính” để bảo đảm tính minh bạch và khả thi trong áp dụng. Với các vi phạm có mức độ nghiêm trọng cao, có thể mở rộng truy cứu trách nhiệm hình sự. Cách tiếp cận này cũng phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Theo Điều 61 Hiệp định TRIPS, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ quy định thủ tục và chế tài hình sự ít nhất đối với hành vi cố ý giả mạo nhãn hiệu hoặc xâm phạm quyền tác giả với quy mô thương mại. Quy định này đặt ra yêu cầu tối thiểu, đồng thời cho phép các quốc gia áp dụng phạm vi trách nhiệm hình sự rộng hơn khi cần thiết để tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền SHTT trong thực tiễn.
V. Kết luận
Trong bối cảnh TMĐT phát triển mạnh mẽ gắn với quá trình chuyển đổi số, việc bảo vệ quyền SHTT có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Mặc dù pháp luật Việt Nam đang dần hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm quyền SHTT trong TMĐT, song thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc: quy định pháp luật bị phân tán và có phần chưa cập nhật; khó khăn trong xác định chủ thể vi phạm; bất cập trong cơ chế phát hiện và phối hợp xử lý vi phạm; khung chế tài chưa đủ răn đe. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng thống nhất, rõ ràng và phù hợp với đặc thù của TMĐT, đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn, là yêu cầu cần thiết nhằm tăng cường hiệu quả xử lý vi phạm và đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế số.
——————————–
Tài liệu tham khảo
1. Anh My, “Hơn 47.000 sản phẩm và 17.000 gian hàng trên sàn TMĐT bị xử lý do gian lận thương mại trong năm 2025”, 30/12/2025, truy cập ngày 27/02/2026, https://vietnambiz.vn/hon-47000-san-pham-va-17000-gian-hang-tren-san-tmdt-bi-xu-ly-do-gian-lan-thuong-mai-trong-nam-2025-20251230201557717.htm
2. Báo Điện tử Chính phủ, “Phát hiện kho quần áo giả nhãn hiệu bán trên các sàn thương mại điện tử”, 09/12/2025, truy cập ngày 27/02/2026, https://baochinhphu.vn/phat-hien-kho-quan-ao-gia-nhan-hieu-ban-tren-cac-san-thuong-mai-dien-tu-102251209105831494.htm
3. Cổng Thông tin điện tử Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, “Đấu tranh ngăn chặn xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ”, 31/01/2026, truy cập ngày 27/02/2026, https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/dau-tranh-ngan-chan-xu-ly-nghiem-cac-hanh-vi-xam-pham-quyen-so-huu-tri-tue-1491942025
4. Mạnh Thuật – Văn Chiến, “Pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong môi trường thương mại điện tử: Từ thực tiễn của Việt Nam đến kinh nghiệm một số nước”, 04/06/2021, truy cập ngày 16/03/2026, https://phaply.net.vn/phap-luat-ve-bao-ho-so-huu-tri-tue-trong-moi-truong-thuong-mai-dien-tu-tu-thuc-tien-cua-viet-nam-den-kinh-nghiem-mot-so-nuoc-a239590.html
5. Ngọc Châm, “Gỡ bỏ 44.000 sản phẩm và 12.000 gian hàng vi phạm trong thương mại điện tử”, 10/10/2025, truy cập ngày 17/03/2026, https://tapchicongthuong.vn/go-bo-44-000-san-pham-va-12-000-gian-hang-vi-pham-trong-thuong-mai-dien-tu-262206.htm
6. Nguyễn Thị Hiền Thương, “Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển”, 12/12/2025, truy cập ngày 25/02/2026, https://danchuphapluat.vn/mot-so-vuong-mac-bat-cap-va-kien-nghi-hoan-thien-phap-luat-ve-so-huu-tri-tue-de-thuc-day-kinh-te-tu-nhan-phat-trien-8089.html
https%3A%2F%2Fphaply.net.vn%2Fphap-luat-viet-nam-ve-xu-ly-hanh-vi-xam-pham-quyen-so-huu-tri-tue-trong-thuong-mai-dien-tu-thuc-trang-va-kien-nghi-a261679.html
